Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Tháng ‘cô hồn’ và lễ Vu lan...

Bắt đầu từ ngày 1.7 âm lịch, mở đầu tháng 'cô hồn' theo quan niệm dân gian. Dân gian cũng cho rằng ngày rằm tháng 7 âm lịch là ngày xá tội vong nhân khi Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan.

Nguồn gốc “cô hồn”

Theo quan niệm của người Việt, con người bao gồm hai phần là phần hồn và phần xác. Khi chết đi, phần hồn vẫn còn tồn tại, người nào khi sống ăn ở hiền lương, tích đức thì được đầu thai thành kiếp khác, ngược lại người nào tạo nên nhiều nghiệt (làm việc ác) thì bị đày xuống địa ngục làm quỷ đói và chịu nhiều hình thức tra tấn dã man.

Câu chuyện được mọi người truyền nhau về tháng này là từ mùng 2.7, Diêm Vương cho mở Quỷ Môn Quan để ma quỷ tự do đi theo bốn hướng, thường là trở về tìm gặp bạn bè, gia đình mong được giúp đỡ để sớm siêu thoát. Đến sau 12 giờ đêm ngày 14.7 thì các ma quỷ phải quay trở về địa ngục.

Lưu truyền qua nhiều đời bằng hình thức truyền miệng, cho đến nay, người Việt thường cúng cô hồn vào ngày mùng 2, 15, 16.7, một số nơi cúng sớm hơn hoặc trễ hơn nhưng đều cúng vào buổi chiều tối. Vì tin như vậy nên người Việt thường sắm cỗ cúng “cô hồn” để chúng không quấy phá.
Dulichgo
Nhiều người còn gọi rằm tháng 7 là “Tết quỷ” nhưng thật ra khái niệm này là của Đạo giáo Trung Quốc. Trong dân gian, người Việt gọi đây là dịp “Địa quan xá tội” hay “Xá tội vong nhân”.

Lễ Vu lan

Lễ Vu lan hay còn gọi là Lễ báo hiếu, đây là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo. Nguồn gốc của Lễ Vu lan gắn với sự tích về Bồ tát Mục Kiều Liên cứu mẹ.
Mục Kiều Liên là một trong mười đại đệ tử của Phật, được Phật Thích Ca khen ngợi là “thần thông đệ nhất” trong hàng đệ tử, có mẹ là bà Thanh Đề, không tin Phật, phỉ báng Phật giáo.

Có câu chuyện nói rằng bà Thanh Đề làm bánh bao nhân thịt chó mời các vị sư ăn, khi các vị sư ăn xong phạm vào điều cấm của nhà Phật nhưng bà Thanh Đề là người mang tội (lại có chuyện nói bao nhiêu tiền con đem về bà Thanh Đề phung phí nhưng nói dối là cúng chùa).

Khi chết đi bà Thanh Đề biến thành con ma đói, bụng to như cái bồn nhưng cái miệng rất nhỏ nên bụng đói nhưng ăn không được. Mục Kiều Liên dùng mất thần nhìn thấy mẹ ở dưới địa ngục như vậy nên đã xuống dâng cho mẹ một chén cơm nhưng khi cầm chén cơm thì chén cơm biến thành lửa.
Dulichgo
Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Kiều Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật nói rằng vì mẹ của Mục Kiều Liên tạo nghiệt quá nặng nên chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó.

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Kiều Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

Thực hư những điều kiêng kỵ

Ở nông thôn Việt Nam xưa, đất đai còn trống vắng, cây cỏ lại nhiều mà niềm tin vào ma quỷ lại gắn liền với sinh thái nên người dân cho rằng ở nơi nào trống vắng là nơi đó có ma quỷ. Người Việt quan niệm rằng tháng “cô hồn” là tháng của ma quỷ, không đem lại may mắn nên không thuận tiện với việc cưới hỏi, mua sắm, khai trương, đi xa. Mọi người truyền tai nhau những điều cấm kỵ trong tháng “cô hồn”, qua nhiều đời dần trở thành phong tục riêng của dân tộc.

Một số điều cấm kỵ được mọi người truyền tai nhau như: không treo chuông gió ở đầu giường; không đi chơi đêm; không nhổ lông chân; không tùy tiện đốt vàng mã; không ăn đồ cúng; phụ nữ và trẻ em không phơi đồ ở ngoài vì ma quỷ đi qua sẽ ướm thử và để lại “quỷ khí” làm người mặc đau ốm; không chụp ảnh ban đêm vì như vậy sẽ dễ thấy ma quỷ trong bức ảnh; không bơi lội,…
Dulichgo
Tuy nhiên, một số điều cấm kỵ không có căn cứ, số còn lại là những lời truyền miệng xuất phát từ những đặc điểm thời tiết của tháng 7.

Tháng 7 là tháng mưa nhiều không thuận tiện cho việc tổ chức cưới hỏi, khởi công. Vì mưa nhiều nên việc bơi lội, phơi đồ ở ngoài cũng dễ bị nhiễm lạnh dẫn đến đau ốm. Đồ cúng để ngoài trời nguội lạnh khi ăn cũng không tốt cho sức khỏe. Việc kiêng chụp ảnh là do thời xưa chưa có máy ảnh, người dân chỉ đi tìm người vẽ chân dung khi chuẩn bị qua đời cần ảnh để bày lên bàn thờ.
Còn lại những điều kiêng kỵ như không nhổ lông chân, không treo chuông gió đầu giường hay tùy tiện đốt giấy tiền là phi thực tế.

Cúng “cô hồn” như thế nào?

Người xưa cúng cô hồn ở các ngã ba đường. Vì ngã ba đường được xem là nơi giao lưu, những người đi bộ thường gặp nhau ở đây, người ta nói ma quỷ cũng đi theo những con đường của con người nên đây cũng là nơi ma quỷ hay đi qua. Vật cúng mang ra rồi thì ai lấy cũng được, người cúng không mang về, nếu không có ai lấy thì phải bỏ luôn.

“Cô hồn” được xem như một loại hình ma quỷ không tuân theo một nguyên tắc nào nên vì một miếng ăn họ sẽ giành giật với nhau. Những người đến giật được xem như sự tái hiện của những cô hồn, gia chủ vui mừng vì xem như khi cúng đã được cô hồn chứng.

Cũng theo quan niệm của người Việt, nếu ngày này vừa mang đồ cúng nhưng chưa kịp thắp nhang đã có người đến giật thì phải quăng hết đồ cúng đi, không được giật lại vì như vậy là giành giật với “cô hồn”. Hay trong thời gian thắp nhang có người trực chờ sẵn để giật thì đó là điều may mắn với gia chủ.

Ngày nay, mâm cỗ cúng cô hồn thường có: 1 đĩa muối, gạo, cháo trắng loãng, giấy áo, giấy tiền, mía, bánh kẹo tiền mặt (tiền thật), trái cây 5 màu, khoai lang lục, 3 ly nước, 3 cây nhang và 2 ngọn nến.
Dulichgo
Sở dĩ cháo không thể thiếu cháo loãng vì dân gian quan niệm rằng những linh hồn bị đày đọa phải mang một thực quản nhỏ hẹp nên không thể nuốt được thức ăn thông thường. Muối và gạo sau khi cúng xong phải rải xuống đường mang ý nghĩa tiễn cô hồn đi.

Như vậy, những điều kiêng kỵ trong tháng “cô hồn” đều thiếu cơ sở khoa học mà chỉ là thói quen và tâm lý “có kiêng có lành” của người Việt.

Theo Vũ Phượng (Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

Tục thờ Bà Chúa xứ ở Cà Mau

Tuy là vùng đất mới được khai phá nhưng Cà Mau là nơi hội tụ nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo và phong phú, trong đó có tục thờ Bà Chúa xứ.

Tục thờ Bà Chúa xứ là hình thức tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Nam Bộ, một số miếu thờ nổi tiếng gắn với những lễ hội truyền thống được nhiều người biết đến như: miếu Bà Chúa xứ núi Sam (Châu Ðốc), miếu Bà Chúa xứ núi Bà Ðen (Tây Ninh), miếu Bà Chúa xứ Tháp Mười (Ðồng Tháp)… Những miếu thờ này từ lâu đã trở thành địa chỉ hành hương quen thuộc của đông đảo người dân Nam Bộ. Ðây cũng là những điểm đến tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước.

Tại Cà Mau, theo kết quả kiểm kê vào đầu năm 2016, trên toàn tỉnh còn lại hàng chục miếu thờ Bà Chúa xứ được xây dựng quy mô, trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng. Riêng địa bàn TP Cà Mau đã có 14 miếu thờ. Tại các huyện trong tỉnh vẫn còn một số miếu thờ dưới hình thức cộng đồng, nhiều miếu thờ đã có hàng trăm năm, gắn liền với lịch sử khai phá, dựng làng, lập ấp của cư dân địa phương.

Theo các nhà nghiên cứu, tục thờ Bà Chúa xứ ở Nam Bộ nói chung, ở Cà Mau nói riêng có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ mẫu, sâu xa hơn là tín ngưỡng “cha trời - mẹ đất” cổ truyền của người Việt. Theo chân những lớp người đi khai hoang, mở cõi, hình thức tín ngưỡng này đã được các lưu dân mang theo trong tâm thức, như một “hành trang tinh thần” từ quê cha, đất tổ.

Khi vào đến dãy đất miền Trung lại được giao lưu, tiếp biến văn hoá với tín ngưỡng thờ Mẹ xứ sở (vốn là nữ thần Pô Inư Nagar) của người Chăm, quá trình “Nam tiến” lại tiếp tục diễn ra cùng với sự gặp gỡ giữa các nền văn hoá Việt - Chăm - Khmer - Hoa… Trên vùng đất mới đã làm biến đổi nhiều yếu tố gốc của tín ngưỡng thờ mẫu truyền thống.
Dulichgo
Hệ thống miếu thờ Bà Chúa xứ thường có 2 loại, loại miếu thờ của gia đình thường được lập với quy mô nhỏ, trong sân hoặc vườn nhà để các thành viên trong gia đình thờ cúng; loại miếu thờ cộng đồng do dân cư trong xóm góp công góp của xây dựng, ban đầu có thể làm bằng cây lá, khi có điều kiện thì xây dựng bằng bê-tông, cao và rộng để người có thể đi vào sắp lễ cúng kiếng thường xuyên.

Bên trong các miếu thờ thường có tượng Bà Chúa xứ bằng bê-tông ở tư thế ngồi, đặt trang nghiêm chính giữa bệ thờ, đầu đội mão trang trí sặc sỡ, mặc áo hoàng bào hoặc áo lụa thêu rồng phụng, trên cổ đeo nhiều chuỗi hạt, hai bên có lộng che, có khi thêm đôi hạc đứng chầu. Trong khuôn viên một số miếu thờ còn có bàn thờ Thông thiên, bệ thờ thần Nông, thần Hổ…

Bài vị trong các miếu thờ Bà Chúa xứ thường được viết bằng chữ Hán với các danh xưng của Bà: “Chúa xứ nương nương”, hoặc “Chúa xứ thánh mẫu”, có khi là “Chúa xứ bổn cảnh”. Thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long, bà còn được sắc phong là “Linh Sơn thánh mẫu” ghi nhận sự có mặt của tín ngưỡng thờ Bà Chúa xứ trong lịch sử dân tộc. Bà Chúa xứ vừa là một “phúc thần” với chức năng phù hộ sức khoẻ, tiền tài, danh vọng, công việc… nhưng có lúc lại đóng vai một “ác thần” trong những thề thốt, nguyền rũa, trù ếm lẫn nhau của nhân gian.

Tại các miếu Bà Chúa xứ, vào các ngày rằm và mùng 1 âm lịch hằng tháng (ngày Sóc, ngày Vọng) người dân địa phương thường sắp mâm lễ đến thắp nhang khấn vái cầu bình an, sức khoẻ, việc làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu… Lễ cúng thường là trái cây và bánh ngọt, những gia đình có điều kiện cũng cúng lễ mặn như thịt heo, gà, vịt.

Trong sách “Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long”, các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Ðường đã mô tả hiện tượng thờ Bà Chúa xứ phổ biến ở Nam Bộ trước năm 1990: “Ở Nam Bộ, nhà nào cũng có miếu thờ Bà Chúa xứ, đặt ở góc nhà hoặc góc vườn. Trong rừng U Minh, người dân đốn củi, lấy mật ong cũng thờ Bà Chúa xứ để cầu mong được mạnh khoẻ, tránh được sốt rét, tránh rủi ro trong nghề nghiệp…”.

Ðặc điểm chung của các miếu thờ Bà Chúa xứ ở Cà Mau là hầu hết được xây dựng dọc theo các tuyến sông rạch, thuận lợi cho người dân đi lại để thực hành tín ngưỡng. Nhiều miếu thờ được lập ở ngã ba sông, nơi xuồng ghe thường qua lại, người trong xóm có công có việc đi ngang miếu như được nhắc nhớ vào thắp nén nhang “đi thưa, về trình” với thần linh. Những miếu thờ này không chỉ dành cho người dân địa phương, mà khách thương hồ có dịp đi ngang qua muốn cầu nguyện chuyện gì cũng có thể vào khấn vái để xin Bà phù hộ.
Dulichgo
Hoàn cảnh hình thành các miếu thờ ở các địa phương cũng khác nhau, có gia đình do đã lập miếu từ nơi khác, khi di cư đến Cà Mau thì lập lại để thờ; có người do ốm đau, bệnh tật nên người nhà khấn vái cầu xin Bà Chúa xứ phù hộ, đến khi khỏi bệnh liền lập miếu thờ; có người nằm mộng thấy bà hiện về báo điềm lành hoặc điềm dữ đối với gia đình, làng xóm, để thể hiện lòng thành kính nên lập miếu thờ để Bà phù hộ, độ trì…

Có thể nói, tục thờ Bà Chúa xứ là sản phẩm văn hoá tâm linh được hình thành qua quá trình giao lưu, tiếp biến và hội tụ của nhiều làn sóng văn hoá trên vùng đất mới. Ðây là hình thức tín ngưỡng phổ biến trong đời sống dân gian Cà Mau qua nhiều thế hệ, gắn liền với công cuộc khai phá, định cư của người Việt ở vùng đất tận cùng đất nước./.

Theo Huỳnh Thăng (Báo Cà Mau)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2016

Múa siêu - nét đẹp của lễ hội dân gian

Múa siêu đã trở thành một nghi thức biểu diễn độc đáo tại các lễ hội văn hóa dân gian, là một phần không thể thiếu trong nhiều nghi lễ hầu thần và cầu ngư ở Phú Yên.

Đặc sắc nghệ thuật biểu diễn

Tại Ngày hội Văn hóa - Thể thao và Du lịch các dân tộc tỉnh Phú Yên (ngày hội) vừa qua, ở phần thi lễ hội truyền thống, các địa phương ven biển như TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu, huyện Tuy An đều chọn lễ cầu ngư để thi diễn. Trong đó, múa siêu nghinh thần là nghi thức trình diễn không thể thiếu.

Mỗi địa phương có một cách bố trí đội hình siêu khác nhau và bài biểu diễn có đôi chút khác biệt. Song nhìn chung, đội múa siêu thu hút người xem ngay từ cách sắp xếp đội hình và trang phục.

Người cầm trống lệnh và đội siêu trong trang phục cổ truyền có thắt lưng, đầu chít khăn, tay cầm siêu rất nổi bật. Bài múa thể hiện những chiêu thức đao pháp vừa uyển chuyển, vừa uy vũ của tinh hoa võ Việt, phô diễn tính cách mạnh mẽ, hào khí.

Ông Tuấn Minh, người có hơn 20 năm tham gia phong trào văn nghệ dân gian ở huyện Tuy An, lý giải: “Bài múa siêu nghinh thần của đoàn Tuy An có tên là “Song thiên đề đao” hay còn gọi là siêu Ông. Nội dung như sau: Xung thiên đề đao trảm phản nghinh/ Lôi phong trá tẩu quỷ thần kinh/ Đê đầu tầm thụ lai phụng tấn/ Trảm phạt trung bình tọa ngưu canh/ Long thăng hổ giáng loan xa sát/ Tiềm tàng ẩn phục điểu kiên thinh/ Lạc mã bàng phi lai cấp thích/ Tứ trung bình tọa phục môn sanh. Các thầy võ học truyền lại cho đệ tử bài múa theo khẩu quyết này. Bài siêu mang ý nghĩa tâm linh của người dân miền biển biểu diễn hầu thần và diệt trừ ma quỷ”.

Theo thầy lễ Lê Vĩ Đại, thị trấn Hòa Hiệp Trung (huyện Đông Hòa), múa siêu là bộ môn nghệ thuật nghinh thần, nên diễn viên trong đội múa siêu được chọn phải là những chàng trai khỏe mạnh, có tinh thần thượng võ và hiểu biết về ý nghĩa linh thiêng của đội siêu trong nghi thức cúng tế.

Anh Đàng Công Hưởng ở thị trấn Hai Riêng (huyện Sông Hinh), khán giả xem trình diễn múa siêu lễ hội cầu ngư tại ngày hội, chia sẻ: “Tôi xem điệu múa, đao pháp khi chọc thẳng lên trời, khi phạt bốn phương tám hướng vừa mạnh mẽ vừa mềm mại rất sinh động và thích mắt. Tôi rất thích nghi thức múa siêu trong lễ hội cầu ngư của cư dân miền biển”.

Nhiều không gian biểu diễn

Không chỉ phổ biến trong lễ hội cầu ngư của người dân miền biển, múa siêu còn được biểu diễn trong nhiều lễ hội văn hóa dân gian truyền thống khác.

Ông Huỳnh Trọng Thống, Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao huyện Phú Hòa, cho biết: “Múa siêu có nhiều ý nghĩa trong sinh hoạt văn hóa của người dân. Múa siêu hầu thần, diệt trừ ma quỷ trong các nghi thức cúng tế mang ý nghĩa tâm linh. Múa siêu cũng được biểu diễn để chào mừng đại biểu tham gia trong các lễ hội văn hóa. Múa siêu thường thấy trong nghi lễ cầu ngư của người miền biển, còn ở miền đồng bằng, múa siêu được biểu diễn trong các lễ hội cúng thần, cúng đình, cúng thành hoàng…”.

Trong nhiều lễ hội lớn, múa siêu trở thành tiết mục biểu diễn đầy tính nghệ thuật khi được kết hợp với nhạc bát âm trở thành điệu thức võ tế thần đặc biệt hấp dẫn. Tiêu biểu có nghi thức múa siêu tại Lễ hội đền Lương Văn Chánh (huyện Phú Hòa), Lễ hội đền Lê Thành Phương (huyện Tuy An)… thu hút đông đảo người dân hào hứng đón xem.

Ông Huỳnh Trọng Thống cho biết thêm: “Các bài múa siêu oai nghiêm, mạnh mẽ được lồng nhạc bát âm sẽ thêm phần uyển chuyển và mềm mại. Bài múa siêu sẽ trở thành tiết mục trình diễn giàu giá trị nghệ thuật”.

Theo ông Lê Thế Vịnh, Trưởng Phòng Nghiệp vụ văn hóa (Sở VH-TT-DL Phú Yên), sở đang trình hồ sơ lên Bộ VH-TT-DL đưa Lễ hội cầu ngư tỉnh Phú Yên vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Vì vậy, ngành Văn hóa đặc biệt chú trọng công tác khuyến khích các địa phương bảo tồn và phát huy giá trị di sản này. Ngành Văn hóa tỉnh chú trọng đầu tư phát triển ở hạng mục nghệ nhân dân gian biểu diễn trong đó có đội siêu chèo.

Theo Diệu Anh (Báo Phú Yên)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 23 tháng 6, 2016

Rủ nhau ra biển ngủ đêm...

(PLO) - Hè đến, người dân ở các làng dọc bờ biển miền Trung kéo nhau ra biển ngủ qua đêm.

Trời nắng Nam, gió Lào thổi ràn rạt, làng biển Thanh Bình (Quảng Xuân, Quảng Trạch, Quảng Bình) kéo nhau ra bờ biển ngủ giải nóng. Mùa hè năm nào cũng vậy, người dân ra biển ngủ ban đêm như một lệ tục đảm bảo tinh thần được sảng khoái. Năm nay, họ ra biển ngủ với một lòng thương nhớ.

Nghi thức xa xưa

Ông Phạm Văn Đồng đã gần 70 tuổi, cuộc đời của ông sinh ra và lớn lên gắn chặt với nghề biển. Bọn trẻ nhỏ trong xóm cứ đến hè lại được ông rủ ra biển ngủ. Làng ông gọi biển là bể và ngủ được gọi là ngáy. Thường chiều muộn, người ở đây vẫn gọi nhau: “Ra bể ngáy ò” (ra biển ngủ nhé).

Ông Đồng kể: “Ngủ biển sáng dậy sức khỏe sảng khoái vì không khí trong lành. Mùa nóng mà không ra biển là chịu không được. Mỗi ngày đều phải ra biển để đi làm nghề, tối ra biển để ngủ cho lại sức, cho mát mẻ là ai cũng ưng”.

Ông Đồng có bao nhiêu tuổi thì có bấy nhiêu mùa hè ngủ biển. Từ xa xưa, những bậc khai canh làng theo thuyền từ miền Bắc vào đất này lập nghiệp, 12 dòng họ đã lần lượt rời thuyền lên bờ để dựng nhà, khai hoang. “Nhóm người đến trước ngủ ở biển để chờ nhóm người lên sau trên những chiếc thuyền vượt khơi từ xa vào bờ. Ngủ để đợi lâu thành lệ, thành tục nên sau này khi làng xóm ổn định thì nghi thức ngủ biển vẫn được duy trì, vừa để giải nóng nhưng vừa để tưởng nhớ những người mãi không cập được bờ” - cụ Đồng bày tỏ.

Không chỉ làng Thanh Bình mà khắp dọc dài những làng biển ở tỉnh Quảng Bình từ mũi đèo Ngang vào đến Ngư Thủy với 121 km đều có tục ngủ biển vào mỗi mùa hè. Câu chuyện họ kể tương tự cụ Đồng nói nhưng mỗi làng có một cách ngủ biển khác nhau.

< Những đứa trẻ làng biển sau đêm ngủ với cát.

Ở vùng Ngư Thủy, cụ Trương Hoàng nói: “Ngủ biển ở làng tui ngoài không gian mát mẻ ra thì còn chờ cá vào. Mỗi bình minh là dân làng thức giấc ngay mép biển để phụ làm lưới, giặt lưới, lấy cá, gánh cá... Hàng trăm năm nay đều rứa nên nó thành lệ, một cái lệ tự nhiên chứ không gò bó”.
Dulichgo
Còn ở xã Hải Ninh (Quảng Ninh), cụ Hoàng Nhỏ cho hay: “Thời trước, đàn ông ra biển hết, còn đàn bà thì dắt con nít ra biển ngủ trên cát ngóng đợi người đàn ông trụ cột trong nhà về. Hôm sau cá về là gánh cá vượt cát đi bán luôn, nhà cửa làm bằng cỏ rười, không có trộm cắp nên yên tâm ra biển ngủ mà đợi chồng con, đợi người yêu trai tráng cho hy vọng gặp gỡ hôm sau được đoàn viên với thuyền cá đầy ắp. Có những cơn giông tố bất ngờ làm cho người này mất, người kia không về thì ngủ biển để chia sẻ, để hưởng vọng thờ tự với mảnh đời xấu số”.

Ngủ biển họp chợ và cưới phiên

Ở làng Thanh Bình, cụ Dương Khư kể: “Tui mù lòa từ nhỏ nhưng ngủ biển năm nào cũng không vắng mặt. Chừ bọn con nít có quạt mát, có nhà mắc điều hòa rồi nhưng chúng vẫn rủ nhau đi ngủ biển mỗi đêm hè. Dân biển mà không ra ngủ biển thì khó chịu lắm, nó thấm vô máu thịt, hồn cốt bọn con nít, nó truyền trong suy nghĩ của người lớn cho con cái nên cứ biết nói, biết đi là được cho ra ngủ biển”.

Cụ Phạm Tụng nói thêm: “Bây giờ người già vẫn đưa bọn trẻ trong làng ra ngủ biển. Chúng giờ học hành nhiều, biết sách vở nhiều nhưng kiến thức biển làng chúng thiếu lắm. Đưa chúng ra đứa nào cũng ưng đi cả, ra biển thì nhìn lên trời để chỉ cho các chòm sao, các vì sao, kể chuyện ngày xưa không có máy móc hiện đại thì đi biển như thế nào. Cách nhìn con nước ra sao để đoán lúc nào có cá, lúc nào không. Con trăng tròn ra sao thì cá không còn đóng đèn, lúc đó làng biển phải nghỉ làm lên bờ. Đàn ông trong làng lại kể những cách sinh tồn khi lỡ thuyền đầy nước, cách bắt cá bằng các loại câu, rồi cách tìm luồng ruốc biển... đều khai tâm cho sắp nhỏ được biết để mai này có đi xa quê còn nhớ chốn của mình gốc gác nào”.

Cụ Nhỏ kể: “Ở làng tui, bọn thanh niên trước lúc lên đường nhập ngũ thường kéo nhau ra ngủ biển vài đêm, chúng ra để hít thật sâu cái mùi cát làng, để có mất mát chúng cũng là con cái của làng”. Cụ Nhỏ vừa nói vừa nhìn lên trang thờ gia đình, đứa con của cụ - liệt sĩ Hoàng Văn Túy hy sinh ở Gạc Ma năm 1988 rồi nói: “Hắn ngủ biển mấy hôm rồi đi, chừ hắn không về nhưng dân làng biển trước khi đi mà ra ngủ như thế là cũng vững lòng lắm”.
Dulichgo
Một chuyện thú vị khác mà cụ Đồng kể trên cát làng: “Ngủ biển trước đây còn là để bàn chuyện cưới phiên. Ngư dân thời hợp tác xã đi làm cùng nhau, trai tráng ra đánh bắt cả, ai yêu ai như thế nào đều dành cho đêm ngủ biển mà tìm hiểu chứ không có mấy thời gian tìm hiểu trong làng. Đêm mùa hè thì cứ tìm hiểu nhau, sau đó hẹn ngày cưới, cả một thuyền bè, cả một đội thuyền nhiều người đi mà hẹn ngày có trùng nhau thì ngư dân phải chia phiên ra cưới hỏi để bạn thuyền đi được hết. Cưới phiên là như vậy”. Theo các bậc cao niên, cưới phiên ngày trước là vậy để đảm bảo ai cũng có cá mừng đủ đầy ngày hạnh phúc.

< Vợ và con sau đêm ngủ biển đợi chồng trở về sau chuyến đi biển.

Tôi về làng, mùa hè năm nay cũng ra biển ngủ, mấy đứa con nít xủi chân trên cát. Ra phía biển là niềm hy vọng sinh khí của làng giữa mùa hạ oi bức. Mấy đứa nhỏ cùng đi bộ vượt cát, đứa nào cũng ưng, chiếc chiếu sờn góc trải lên, gió biển thổi mát mặt nhưng mùa này thuyền không xuống biển như mọi năm trước. Một nỗi niềm chờ đợi bao nhiêu ngày qua. Ngủ biển đợt này ai cũng hỏi khi nào có tin nguyên nhân con cá đầy nghĩa tình với làng biển vì sao qua đời. Riêng bọn con nít thì vui đùa đến vô tư rồi chìm vào giấc ngủ ngay trên cát, trong ầm ào tiếng sóng biển đêm.

Lệ ngủ biển có khắp các làng bãi ngang ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế... bởi đó là không gian sinh hoạt thoát khỏi oi bức mùa hè của những tháng ngày thiếu thốn. Ngày nay, nói như cụ Nguyễn Văn Hòa ở Kỳ Nam (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) thì ngủ biển để xả strees vì ban ngày việc về bộn, ban đêm ôm chiếu cùng nhúm chăn ra biển thì gặp hầu hết bạn bè, người làng người xóm.

Cụ Hòa cho hay: “Tin tức gì của thế giới hay trong làng, trong nước cứ ra ngủ biển là biết được hết, từ bọn thanh niên đọc trên điện thoại đến cái đài nhỏ người cao tuổi mang theo”. Còn ở làng tôi, bọn con nít ra biển ngủ hay đọc đồng dao về tình người qua những con cá:

Cá biển cả bầy là con cá đục/ Cắt ra nhiều khúc là con cá chình/ Trai gái rập rình là con cá he/ Chồng nói vợ nghe là con cá mác/ Chung tiền đánh bạc là con cá cờ/ Tối ngủ hay sờ là con cá ngứa/Ngày ăn hai bữa là con cá cơm/ Ăn chẳng kịp đơm là con cá hấp/ Rủ nhau lên dốc là con cá leo/ Miệng thở phì phèo là con cá đuối/ Nhọn mồm nhọn đít là con cá dẹc/ Nấu ra nhão nhoẹt là con cá khoai/ Hay ăn trộm ngoài là con cá nhám/ Lệch kệch làng càng là cá ông căng/ Già rụng hết răng là con cá móm/ Bộ đi lóm khóm là con cá bò/ Ăn chẳng biết no là con cá nóc/ Có gai trên ốc là con cá ngạnh/ Có hai cái cánh là con cá chuồn/ Rủ trai vào buồng là con cá ngộ/ Nghe lời trai dỗ mang gói sang sông/ Bỏ mẹ theo chồng là con bạc má/ Biển thời lắm cá, sông thời lắm tôm/ Đó là cái nguồn sinh nhai kiếm sống.

Mỗi mùa ngủ như thế được khai tâm thật hay về biển cả quê hương thật diễm phúc.

Theo Minh Quê (Pháp Luật)
Du lịch, GO!